Đảng bộ

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC – BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
04/09/2025

 

Nhật ký – Tháng Tám mùa Thu năm 1945.

Hẳn chúng ta vẫn còn nhớ đến không khí hào hùng của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám mùa thu năm 1945.

Ngày 19/08/1945:

- Cả thủ đô Hà Nội rực rỡ màu cờ. Hàng chục vạn quần chúng cách mạng cả nội thành và ngoại thành mang theo dao, gậy, mã tấu, súng, ... rầm rập tiến về quảng trường Nhà hát thành phố dự cuộc mít tinh do Việt Minh tổ chức.

- Quần chúng vừa đi vừa hô vang các khẩu hiệu:

* Đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim!

* Thành lập chính phủ cộng hoà dân chủ Việt Nam!

* Anh em binh lính hãy mang súng gia nhập hàng ngũ chiến đấu bên cạnh Việt Minh!

* Việt Nam hoàn toàn độc lập!

- Cuộc mít tinh bắt đầu lúc 11 giờ. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến quân ca hùng dũng, đại biểu Uỷ ban quân sự cách mạng đã đọc lời kêu gọi toàn dân khởi nghĩa của Mặt trận Việt Minh.

- Tiếp theo cuộc mít tinh là cuộc biểu tình tuần hành vũ trang của quần chúng cách mạng tiến về các ngã đường, chiếm các cơ quan của chính quyền bù nhìn như: phủ khâm sai, toà thị chính, trại lính bảo an, sở cảnh sát...

- Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở thủ đô Hà Nội ngày 19 tháng 8 đã cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ các tỉnh và thành phố khác vượt qua mọi khó khăn trở ngại, gấp rút nổi dậy giành chính quyền; đồng thời làm cho bè lũ bù nhìn tay sai Nhật ở các nơi tê liệt, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tổng khởi nghĩa trong cả nước mau chóng giành thắng lợi.

- Cũng trong ngày 19 tháng 8, cuộc khởi nghĩa đã giành được thắng lợi ở các tỉnh lỵ Yên Bái, Thái Bình, Phúc Yên, Thanh Hoá, Khánh Hoà.

Ngày 20 tháng 8:

- Khởi nghĩa thắng lợi ở các tỉnh lỵ Bắc Ninh, Ninh Bình, Thái Nguyên.

Ngày 21 tháng 8:

- Ở các tỉnh lỵ Cao Bằng, Bắc Cạn, Sơn Tây, Nghệ An và Ninh Thuận.

Ngày 22 tháng 8:

- Ở các tỉnh lỵ Nam Định, Hưng Yên, Kiến An, Quảng Yên.

Ngày 23 tháng 8:

- Tin khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội và ở nhiều tỉnh miền Bắc, miền Trung, đặc biệt tin quần chúng khởi nghĩa đã giải phóng các huyện ở Quảng Ngãi và đang bao vây thị xã bay dồn dập tới Huế. Chung quanh Huế, nhân dân các huyện thuộc Thừa Thiên cũng đã nổi dậy giành chính quyền. Nhưng trước khi sụp đổ, chính quyền Trần Trọng Kim còn định đem sức tàn tổ chức một cuộc biểu tình ngày 23/8 để ăn mừng việc Nhật “trao trả” Nam Kỳ cho chúng. Tỉnh uỷ Thừa Thiên liền quyết định lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa vào ngày đó. Đêm 22 và ngày 23/8, cờ đỏ sao vàng tràn ngập thành phố Huế. Trước sức mạnh của trên 150.000 nhân dân thành phố Huế và các huyện ở Thừa Thiên, chính quyền bù nhìn buộc phải để cho quần chúng khởi nghĩa chiếm các công sở. Trong ngày 23 tháng 8, cuộc khởi nghĩa cũng đã giành thắng lợi ở thành phố Hải Phòng, ở các thị xã Hà Đông, Hoà Bình, Quảng Trị, Quảng Bình, Bình Định, Lâm Viên, Gia Lai, Tân An, Bạc Liêu.

Ngày 24 tháng 8:

- Ở các thị xã Hà Nam, Đắc Lắc, Phú Yên, Bình Thuận, Gò Công, Mỹ Tho.

Ngày 25 tháng 8:

- Ở các thị xã Lạng Sơn, Phú Thọ, Kom Tum. Sau khi được tin Hà Nội, Huế đã giành được chính quyền, Đảng bộ miền Nam quyết định chọn ngày 25/8 làm ngày khởi nghĩa cho Sài Gòn và các tỉnh còn lại. Từ đêm 24/8, các lực lượng khởi nghĩa với tầm vông vót nhọn và giáo mác rầm rập tiến về Sài Gòn, …. Sáng ngày 25, hơn 1.000.000 người biểu tình tuần hành thị uy.... Cờ đỏ sao vàng tung bay trên cột cờ Thủ Ngữ và các công sở Sài Gòn. Uỷ ban nhân dân Nam Bộ đã ra mắt đồng bào trước một cuộc mít tinh lớn. Cùng ngày, khởi nghĩa đã thắng lợi ở các tỉnh, thành phố và thị xã Chợ Lớn, Gia Định, Sóc Trăng, Long Xuyên, Vĩnh Long, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Châu Đốc, Trà Vinh, Tây Ninh, Biên Hoà, Bến Tre, Sa Đéc.

Ngày 27 tháng 8:

- Ở thị xã Rạch Giá.

Ngày 28 tháng 8:

- Ở các thị xã Hà Tiên, Đồng Nai Thượng và cuối cùng là Côn Đảo. Trừ các thị xã do bọn Tưởng Giới Thạch và tay sai chiếm đóng từ trước như Lào Cai, Hà Giang, Móng Cái, Lai Châu, Vĩnh Yên).

Như vậy chỉ trong vòng nửa tháng, cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đã thành công trên cả nước. Chế độ thực dân thống trị gần 90 năm và chế độ quân chủ hàng nghìn năm đã bị lật nhào.

Đây là lần đầu tiên nhân dân một nước thuộc địa nhỏ yếu, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã tự vùng lên tự giải phóng khỏi xiềng xích của đế quốc, tay sai. Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng các dân tộc thuộc địa, một Đảng Cộng sản vừa tròn 15 tuổi, đã lãnh đạo cách mạng thành công và nắm chính quyền trong cả nước.

Được sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, đồng chí Lê Đức Thọ lên chiến khu đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội.

Ngày 25 - 8 – 1945: Người về đến ngoại thành Hà Nội và nghỉ tại thôn Phú Gia, xã Phú Thượng, Từ Liêm. Sau đó Người về ở tại tầng hai số nhà 48 Hàng Ngang, Hà Nội. Cũng chính tại nơi này, Người đã thảo bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Theo đề nghị của Người, Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Đaị hội quốc dân Tân Trào bầu ra được cải tổ thành Chính phủ lâm thời. Người cũng đề nghị mở rộng hơn nữa thành phần Chính phủ lâm thời, chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hoà - một chính phủ thống nhất toàn quốc thể hiện chính sách đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các Đảng phái yêu nước và những nhân sĩ tiến bộ đã được thành lập.

Sau khi đọc bản thảo cho những người cộng tác thân cận nghe và hỏi ý kiến họ - đây là một thói quen, Bác thường hay hỏi ý kiến để người khác phê bình công việc mình làm. Bác đã không dấu nổi sung sướng. Bác nói trong cuộc đời Bác, Bác đã viết nhiều, nhưng tới giờ mới viết được bản Tuyên ngôn đó.             

Thật vậy, bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết là sự phát triển của những bản yêu cầu mà Người đã gửi cho Hội nghị hoà bình ở Vécxây năm 1919; là sự phát triển của chương trình Việt Minh mà Người đã soạn thảo năm 1941; là kết quả của những bản Tuyên ngôn khác của các tiền bối như các cụ Thủ Khoa Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và của nhiều người khác, của bao nhiêu sách báo truyền đơn bí mật viết bằng máu và nước mắt của những nhà yêu nước từ hơn tám mươi năm nay;

Hơn thế nữa, bản Tuyên ngôn độc lập còn là sự kết tinh những quyền lợi cơ bản và những nguyện vọng tha thiết nhất của dân tộc Việt Nam và nói lên tâm hồn trong sáng, khí phách hào hùng của nhân dân ta.

Bản Tuyên ngôn độc lập đó là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường.

Bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam.

Bản Tuyên ngôn độc lập là một trang vẻ vang trong lịch sử Việt Nam. Nó chấm dứt chính thể quân chủ chuyên chế và chế độ thực dân áp bức. Nó mở ra một kỷ nguyên mới dân chủ cộng hoà.

Trưa ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình - Hà Nội trước cuộc mít tinh của trên 50 vạn nhân dân Hà Nội và các tỉnh lân cận chào mừng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố với nhân dân Việt Nam và thế giới rằng: NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒAđã ra đời.   

Hôm nay sáng mồng Hai tháng Chín

Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình

Muôn triệu tim chờ, chim cũng nín

Bỗng vang lên tiếng hát ân tình

Hồ Chí Minh! Hồ Chí Minh!

(Trích đoạn trong bài thơ "Theo dấu chân Bác" của nhà thơ Tố Hữu)

Bản Tuyên ngôn Độc lập là bản “Thiên cổ hùng văn” về quyền con người, quyền dân tộc cơ bản của các dân tộc trên thế giới, khẳng định quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của nhân dân ta là quyền độc lập, tự do; là khát vọng và tinh thần đấu tranh kiên cường để giữ vững nền tự do độc lập ấy.

Mang tính cách mạng, tính khoa học và tính lịch sử sâu sắc, Tuyên ngôn độc lập đã góp phần quan trọng thúc đẩy lịch sử Việt Nam tiến lên, thức tỉnh và thôi thúc dân tộc ta cùng hoà nhịp với các dân tộc bị áp bức trên thế giới, bước nhanh vào kỷ nguyên mới của loài người: kỷ nguyên của độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.

Đối với nhân dân Việt Nam:

Bản Tuyên ngôn độc lập, trước hết là văn bản pháp lý đầu tiên của nước Việt Nam mới, một “thiên cổ hùng văn” của dân tộc công bố với quốc dân đồng bào và thế giới về sự thành lập của nhà nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, “là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hy sinh, ... là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam” lúc bấy giờ.

Tuyên ngôn độc lập đã tố cáo và lên án những tội ác man rợ của thực dân Pháp đối với đồng bào ta trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... trong đó có tội ác là chỉ trong 5 năm chúng đã hai lần bán nước ta cho phát xít Nhật.

Từ thực tế không thể chối cãi đó, Tuyên ngôn độc lập đã nói rõ cho thế giới và phe Đồng minh biết: “Sự thật là nhân dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp. Pháp chạy, Nhật đầu hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”.

Rõ ràng cơ sở pháp lý ấy khẳng định: “Dân tôc Việt Nam có quyền được “hưởng tự do và độc lập”, và “sự thật đã thành một nước tự do và độc lập”. Vì vậy, “các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”. “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”.

Hơn thế, ở thế kỷ XX – thế kỷ của phong trào giải phóng dân tộc đánh sập chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, một nước giành được độc lập có Tuyên ngôn sớm như Việt Nam thì không phải là nhiều. Đó lại là một trong số rất ít những bản Tuyên ngôn độc lập được thế giới biết đến rộng rãi, đã đi vào lịch sử văn hóa nhân loại và trở thành niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

Nhân loại đánh giá cao tư duy pháp lý của Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam, thể hiện sự thống nhất và liền mạch  với tư duy pháp lý của nhân loại tiến bộ, không xa lạ với những chân lý phổ biến đã được coi là thành quả văn minh của loài người, khi trong Tuyên  ngôn độc lập  của Việt Nam mở đầu bằng viện dẫn những “lời bất hủ” được ghi trong bản  Tuyên  ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của nước Pháp về những quyền cơ bản của con người, những quyền “không ai chối cãi được”, đó là quyền được sống, quyền tự do,  quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền bình đẳng về quyền lợi...

          Thế giới càng đánh giá cao khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh không dừng lại ở những quyền cơ bản của con người, mà từ những quyền cơ bản đó, Người đã phát triển sáng tạo nâng lên thành quyền cơ bản dân tộc, khẳng định quyền này như một nguyên tắc pháp lý, thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Như sau khi viện dẫn những lời bất hủ trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã viết trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Việt Nam là: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

          Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Việt Nam – “đó là một đạo luật mới của nhân dân thế giới khẳng định quyền tự do, độc lập, bất khả xâm phạm của các dân tộc bị áp bức”, nó chống lại pháp lý “ăn cướp” của các thế lực xâm lược cũ và mơi, trong thời đại ngày nay.

Đối với Quốc tế:

Bản Tuyên ngôn khẳng định quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của nhân dân Việt Nam được hưởng quyền tự do, độc lập dân tộc mà nhân dân ta đã kiên cường đấu tranh giành lại từ tay Phát xít Nhật, đồng thời Tuyên ngôn khẳng định quyết tâm vô bờ bến của toàn thể dân tộc quyết đem cả tinh thần, của cải, tính mệnh để bảo đảm nền độc lập, tự do ấy. Đặc biệt, Tuyên ngôn đã thông cáo cho toàn thế giới về sự ra đời của một Nhà nước Dân chủ Cộng hoà - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Ngày độc lập 2-9-1945 là ngày hội lớn của dân tộc Việt Nam ta. Nó chấm dứt chế độ thực dân và phong kiến ở nước ta đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên nhân dân tự làm chủ vận mệnh của mình để thực hiện độc lập, tự do và hạnh phúc.

80 năm đã đi qua (2/9/1945 – 2/9/2025) nhưng giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 vẫn còn vẹn nguyên giá trị.

Ngày 2/9/1945 đã trở thành một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đánh dấu sự kiện trọng đại về sự ra đời của một nhà nước mới: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) với mục tiêu Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, khơi nguồn sáng tạo và soi sáng con đường cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Hôm nay, nhân dịp chào đón ngày Quốc Khánh 2/9, trên khắp các con đường, tuyến phố của thành phố mang tên Bác – Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ cờ hoa. Trong trái tim mỗi con người Việt Nam lại bùng lên những cảm xúc thiêng liêng, xúc động, niềm tin kiêu hãnh và lòng tự hào dân tộc. Đây không chỉ là ngày hội lớn của dân tộc Việt Nam, mà còn là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết, sự kiên cường và lòng yêu nước bất diệt của Nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.

Chúng ta phải biết quý trọng sự độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và cùng nhau giữ gìn, phấn đấu, xây dựng nước Việt Nam ngày càng phát triển giàu mạnh, tươi đẹp.